Kim Seung-jong's Literary Miscellany (173) 'A Life in This World Devoted to One's Children'
Anh Cụ ba mươi mét tuổi, bây giờ hai mươi lăm tuổi khi lấy một bà góa bê ba mươi chín tuổi ở tuổi mười bảy, mẹ đã trở thành góa phụ lúc ba mươi mốt tuổi. Bà nuôi dưỡng các con của chồng cũ, lập gia đình cho họ, và sống một mình lâu dài trong ngôi nhà quê hương. Khi bà bắt đầu gặp khó khăn trong việc đi lại, anh con trai là nhà thơ ở tuổi bảy mươi ba đã quay trở lại chăm sóc mẹ khi bà đã chín mươi bảy tuổi và nỗ lực phụng dưỡng bà. Khoảng hai năm như vậy. Sau đó, mẹ bị cảm, phổi tích nước, phải nhập viện điều trị. Bác sĩ đề nghị chuyển mẹ đã suy yếu sang bệnh viện dưỡng lão có trong bệnh viện. Những người xung quanh cũng khuyên: "Đừng cứ mê mẩn muốn phụng dưỡng trực tiếp nữa. Đừng cố gắng kéo dài sự sống một cách cưỡng ép. Bản thân bệnh nhân (mẹ) cũng không mong muốn điều đó".
Nhà thơ tự hỏi: "Làm sao tôi có thể để mẹ ở lại một mình và bỏ đi? Có chỉ là đơn giản như vậy - phải rũ bỏ tất cả cảm xúc và quay đi? Liệu tôi có phải trở thành một con người lạnh lùng, không khác gì những người khác? Thế nào là con đường đúng đắn, là lẽ phải thực sự của một con người trước hết là một đứa con? Hỡi Thượng đế ơi! Xin ban cho tôi câu trả lời".(『Sự Tiếc Thương Nơi Người Thân Ra Đi』, Nhà Xuất Bản Jinwon, 2024, Trang 27-29) Như chúng ta đều biết, việc nhập viện dưỡng lão là "Phiên bản hiện đại của Goeryeojang", và nhà thơ có thể chăm sóc mẹ như trước đó ở ngôi nhà quê mà mẹ vẫn sống, hoặc cũng có thể chăm sóc bà cùng vợ mình ở căn hộ của anh ta trong thành phố. Nói cách khác, nhập viện dưỡng lão không phải là lựa chọn duy nhất mà nó chỉ là vấn đề lựa chọn. Bài thơ tiếp theo của nhà thơ được viết khi anh ta liên tưởng đến mẹ bị giam giữ trong viện dưỡng lão, tách biệt với ngôi nhà rỗng tuếch của mẹ, và bài thơ tràn ngập những lời tự trách mà anh ta có được qua cảm xúc sâu sắc này, thúc đẩy chúng ta suy ngẫm theo nhiều cách.
Đốt cháy trái tim đen tối thành hồng rực
Những mẹ xưa kia đã hiến tế với tâm niệm sáng suốt từng sáng từng tối
Thời này khó có ai được nhìn thấy như vậy.
Vậy bất kỳ vị thánh nào sẽ xin sinh ra trên đời
Để chịu đựng những hy sinh như mẹ thế kia?
Huống chi con người dù hy sinh bao nhiêu
Làm sao có thể noi theo mẹ được?
Trong thế giới hỗn độn này, giữa những thói xấu
Tâm niệm sáng suốt của mẹ, ngọn lửa đó
Chính là cuộc sống của tất cả các mẹ trên thế gian.
Trên đất này chỉ là một kiếp sống vì con cái
Hy sinh và gian khổ bằng cả thân thể, giấu nước mắt
Rồi khi đến lúc, không báo trước mà nhắm mắt lại.
Trên cõi này có lúc cuộc sống nặng nề quá
Bầu trời xa xăm mà không thấy được, nên nhắm mắt
Đôi lúc lòng sụp đổ nên mắt cũng nhắm lại.
Lòng đã trở thành tro than từ đó trở lại
Không thể nào để mọi người thấy, nên suốt đời giấu kín
Rồi một ngày kia, không báo trước mà bỗng hóa thành chim bay đi, như thể không bao giờ đến đất này
Như vậy mà mẹ ra đi, đó là cuộc sống của tất cả mẹ trên thế gian.
Con sinh ra con, con đó
Đã vượt quá năm mươi tuổi rồi mà mẹ vẫn
Không bao giờ già đi, ở yên tại chỗ
Chỉ là lầm tưởng rằng mẹ ở đó, trong thế gian sống
Là thiên đường riêng của những con khờ dữu, những người mù quáng
Và là một yêu tinh trong sự lầm tưởng thực sự ngu xuẩn.
樹欲靜而風不止[Cây muốn yên tĩnh nhưng gió không thôi]
子欲養而親不待[Con muốn phụng dưỡng nhưng cha mẹ không chờ]
Cây muốn yên tĩnh
Nhưng gió vẫn không dừng lại
Con muốn phụng dưỡng
Nhưng cha mẹ không chờ đợi nữa
- 「Cuộc Sống Của Cha Mẹ, Cuộc Sống Của Mẹ」/Lee Byung-jun
Chúng ta cảm thán trước tình huống cho thấy nhà thơ từ sớm đã nhìn nhận cuộc sống của mẹ như "phát nguyện đốt thân" (tự tế thân), và luôn giữ ấm lòng với hình ảnh "đốc công than" đang bốc cháy. Tuy nhiên, với những lời nhắn nhủ "bất kỳ vị thánh nào sẽ xin sinh ra trên đời/để chịu đựng những hy sinh như mẹ thế kia?", chúng ta dường như muốn tạm hoãn sự tán thành. Chúng ta nhận ra mình đang giữ khoảng cách, cho rằng nhà thơ đã nói quá, nhưng sau đó chúng ta lại do dự, và khi bổ sung thêm câu chuyện cá nhân của nhà thơ và mẹ nhà thơ vào tiền đề, chúng ta bắt đầu chấp nhận niềm tin này. Thêm vào đó, khi đọc dòng thơ "tâm niệm sáng suốt của mẹ, ngọn lửa đó/chính là cuộc sống của tất cả các mẹ trên thế gian" liên quan đến "thế giới hỗn độn này, những thói xấu", chúng ta nhận ra mẹ của chúng ta cũng giống như mẹ của nhà thơ không chỉ là một người khác, nhưng dù sao, chúng ta vẫn cảm động trước tình yêu hi sinh mà chúng ta không thể nào bắt chước, và có thể nhìn mẹ như một con người tối nhân đạo.
Những vết thương mà bà "không thể để cho con cái thấy" được "giấu kín suốt đời"/sống rồi "một ngày kia, không báo trước mà bỗng hóa thành chim bay đi, như thể không bao giờ đến đất này"/"ra đi, đó là cuộc sống của tất cả mẹ trên thế gian", chúng ta càng suy ngẫm thêm về cuộc sống của mẹ. Nếu bà là cây nến thì cũng tốt hơn. Như "đốc công than" đốt hết lòng mình, đốt cháy mà sưởi ấm lò sưởi trong nhà nghèo [qua những mái tóc đen sáng bóng mà tóc trắng xơ xác, tàn tạ] rồi cháy hết, im lặng tắt đi.
Bài văn than khóc này không kết thúc bằng cách kéo dài âm nhạc của sự tôn vinh, sự ngưỡng mộ hy sinh của mẹ mà chúng ta mong đợi. Cuối cùng, thông điệp trung tâm của bài thơ xuất hiện.
Nhà thơ than sầu trước "thế gian sống trong lầm tưởng rằng mẹ không bao giờ già đi dù đã vượt quá năm mươi tuổi, vẫn ở yên tại chỗ", và châm biếm "những con khờ dữu" là "thiên đường riêng" của "những người mù quáng" cũng là "yêu tinh trong sự lầm tưởng thực sự ngu xuẩn". Sự tương phản này, sự nhấn mạnh này tất nhiên trước hết nhà thơ đang hướng tới chính mình, nhưng nó cũng mở rộng đến chúng ta những người cùng chứng trạng xã hội này, và chúng ta cũng không thể nào tránh khỏi, lòng tự thấy xấu hổ như lông lá tơi lẻ. Bây giờ chúng ta nên tham khảo sự cảm nhận của chính nhà thơ, được trình bày như chú thích của bài thơ này.
Tại sao những đứa con của con người không thể hiểu đúng ý nghĩa của những lời khôn ngoan xa xưa về "tiếc thương cây gió" (Phong Thụ Chi Thán), và không thể sớm giác ngộ được? Khi rời bỏ kiếp này, dù khóc rơi như dông bão cũng không giá trị bằng lá rơi, nhưng con người lại sống rất dốt nát, còn ngu hơn cả gấu. Tại sao lại tự cầu những điều như vậy? Từ khi để mẹ chín mươi tám tuổi ở trong viện dưỡng lão, tôi cảm thấy rằng sự ăn năn về thời gian đã trôi qua và nỗi đau lòng sẽ không bao giờ có thể tự tịnh hóa hay chữa lành. Thời gian cứ trôi, lòng tôi cứ thêm đau hơn. Vì đó là nợ cũ (những tội lỗi từ kiếp trước) mà trong kiếp này không thể nào xóa bỏ được, nên tôi cũng chẳng bê bối gì cả, chỉ có những lời than vãn vô ích thôi.
Không cần nói thêm, nhưng những nghi vấn xót thương, những lời trách cứ và tâm tư này là của tất cả chúng ta.